Chuyển đến nội dung chính

Làng gốm cổ truyền Phước Tích trên con đường phát triển

Làng cổ Phước Tích khai thác nghề thủ công truyền thống Du lịch ngày 14 tháng 1 năm 2015 Làng cổ Phước Tích ở trung tâm tỉnh Thừa Thiên Huế đang thu hút được nhiều khách du lịch sau nhiều năm nỗ lực phục hồi nghề thủ công truyền thống và bảo tồn nhà cổ.

Là một trong hai ngôi làng duy nhất ở Việt Nam được công nhận là di tích lịch sử văn hoá quốc gia, Phước Tích được hình thành từ thế kỷ 15, thuộc xã Phong Hòa, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. Tên làng gốm bị thay đổi rất nhiều lần: ban đầu, trong triều Lê trước đây, tên gốc là Đông Quyết, sau đó đổi thành Phước Giang, dưới triều Tây Sơn, làng đổi thành Hoàng Giang và cuối cùng là dưới triều Nguyễn, Tên của nó đổi thành Phước Tích và giữ nguyên tên như ngày nay. Phước Tích nổi tiếng với nghề gốm sứ ở thủ đô Huế.
Phước Tích có một vẻ đẹp thơ mộng, mỗi ngôi nhà cổ có một khu vườn rộng với nhiều cây ăn quả khoảng 1.000-1,500m2. Biên giới được làm bằng hàng rào chè xung quanh nhà với chiều cao trung bình tạo nên một bầu không khí thân thiện và ấm cúng với hàng xóm. Cộng đồng ruộng nhà ở xã Phước Tích rất nổi tiếng vì cái nhìn cồng kềnh và cổ xưa. Có 27/117 ngôi nhà Ruồng thông thái với tuổi trên 100 và 10 đền thờ gia đình cổ xưa vẫn giữ nguyên trạng thái thái. Những ngôi nhà cổ nằm trong không gian của một ngôi làng cổ, được bố trí độc đáo với làn đất quê hương, gần với khu vườn cổ xưa kết nối chặt chẽ với kiến ​​trúc cổ xưa của ngôi chùa tổ tiên và ngôi chùa tổ tiên ... Hơn 500 năm hình thành với nhiều biến động của lịch sử, Phước Tích Bảo tồn giá trị văn hoá vật chất và phi vật chất cao.
Lò gốm ở Phước Tích

Theo ông Nguyễn Đại Vui, Chủ tịch UBND huyện Phong Điền, tất cả các gia đình trong làng đã kiếm sống bằng nghề gốm sứ trong suốt 500 năm qua. Đồ gốm Phước Tích đã từng nổi tiếng và đã từng được các nhà vua sử dụng để sử dụng.
Với sự hỗ trợ của Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) phối hợp với Đại học Phụ nữ Showa của Nhật Bản, Phước Tích có thể khôi phục nghề gốm truyền thống, không chỉ mang lại lợi ích thương mại mà còn thúc đẩy du lịch.
Hai mươi cư dân từ Phước Tích đã nhận được hỗ trợ và đào tạo từ JICA và trường đại học để thiết kế các sản phẩm mới bằng các kỹ thuật truyền thống. Du khách thích thú khi được phục vụ đồ ăn địa phương trên đĩa và bát được thực hiện ngay trong làng trong một khung cảnh bình dị của vườn cây ăn trái. Làng đã có mặt trên các bản đồ du lịch từ năm 2008 với một chuyến du lịch mang tên "hương vị cũ của làng cổ" trong các dịp Festival Huế.
Ông Nguyễn Thế, một nhà nghiên cứu về văn hoá Huế, cho biết: "Ngày nay, lò gốm của ông Phước Tích vẫn còn rực rỡ, không chỉ sản xuất ra những sản phẩm gốm mà còn giúp thúc đẩy nghề thủ công truyền thống của địa phương đến với du khách trong nước và quốc tế.

"Đó là kiểu đánh hai mục tiêu với một mũi tên," Điều bổ sung.


Bên cạnh việc khôi phục nghề gốm truyền thống, ngôi làng đã cố gắng giữ gìn di sản của ngôi nhà cũ. Có 24 ngôi nhà cổ trong làng, với ngôi nhà cổ nhất có niên đại từ năm 1850. Những ngôi nhà bằng gỗ cổ này được xây dựng với kiểu kiến ​​trúc điển hình gồm ba ngăn và hai chiếc khăn trải giường, được bao quanh bởi một khu vườn với hàng chồi trà xanh làm hàng rào và sân gạch phủ. Năm ngoái, làng Phước Tích đón tiếp 4.398 khách, tăng mạnh 219% so với năm 2015, mang lại doanh thu 200 triệu đồng.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Nức tiếng gốm Đông Triều

Đông Triều là một trong những điểm dừng chân bắt buộc của du khách trong và ngoài nước khi đến thăm khu vực vịnh Hạ Long hùng vĩ với số dân hải đảo tăng từ vùng nước trong xanh của Vịnh Bắc Bộ. Huyện Đông Triều, cách thành phố Hạ Long 60km, trên đường cao tốc 18A, sở hữu một số ngôi làng gốm nổi tiếng nhất của Việt Nam. Gốm sứ Triều đã phát triển gần đây hơn so với các làng gốm sứ truyền thống khác ở Việt Nam như là thợ bậc thầy đầu tiên, ông Hoàng Ba Huy, bắt đầu hội thảo sản xuất gia đình vào năm 1955. Vài năm sau, năm 1958, ông thành lập hợp tác gốm sứ Đông Thành ở làng Cầu Đất với một số nhà máy sản xuất gia đình khác. Đến cuối năm 1960, ông đã thành lập một hợp tác xã khác là Gạch Ngói Ánh Hồng tại thôn Vĩnh Hồng, thị trấn Mạo Khê. So với Bát Tràng, Phù Lãng, Kim Lan,… làng gốm Đông Triều (Quảng Ninh) còn khá non trẻ về tuổi đời. Vào năm 1955, ông Hoàng Bá Huy là người tiên phong trong việc mở xưởng sản xuất gốm với quy mô gia đình. Trải qua thời gian, nghề này được nhân rộng...

Mách nàng những cách mix đồ với màu hồng pastel cực thời trang

Chắc hẳn nhiều cô nàng bây giờ đang đau đầu vì lựa đồ chào đón cái tết cổ truyền. Vì vậy bài viết này sẽ giới thiệu các nàng gam màu hồng pastel, gam màu làm mưa làm gió năm 2017 nhưng vẫn không có dấu hiệu giảm độ hot trong năm 2018 này. Hồng pastel luôn là gam màu có sức hấp dẫn đặc biệt với các cô nàng dịu dàng, nữ tính. Để mặc đẹp màu hồng pastel không khó, các nàng có thể chọn mix mới áo khoác dài để mang tính thời trang, sành điệu hoặc mix với phụ kiện hay set đồ. Tùy vào cách bạn chọn đồ hay trang điểm thì bạn sẽ trông điệu đà, duyên dáng hay cá tính. Mix theo set đồ Với gam màu hồng pastel, một vài quy tắc mix đồ bạn nên bỏ túi: - Hồng pastel chuộng các gam màu lạnh đơn sắc, đặc biệt là trắng, đen, ghi xám. - Không nên mix màu hồng pastel với những món đồ quá nhiều họa tiết, dễ tạo cảm giác rối mắt. - Bạn có thể mix hồng pastel ton-sur-ton (tông xuyệt tông) bằng cách tạo điểm nhấn giữa sắc hồng của các món đồ: đậm dần hoặc nhạt dần. Áo khoá...

Văn hóa thưởng thức trà ở Việt Nam

Ở Việt Nam, trà được cho là xuất hiện trong hầu hết các hoạt động xã hội: từ đám cưới, sinh nhật đến lễ kỷ niệm và lễ nghi. Một chén trà nóng vào buổi sáng sớm sau khi ăn sáng, một số trà đá ở "quán cóc" - cửa hàng làm đường bên đường trong khi chờ bạn, hoặc cả ngày làm lạnh trong một quán trà; Đó là cách trà xâm nhập vào cuộc sống hàng ngày của người Việt Nam. Lịch sử văn hóa trà Trà không chỉ là một thức uống mang đậm bản sắc văn hóa mà có gía trị liệu pháp, giúp cho máu huyết lưu thông, lợi tiểu, có khả năng chống ung thư, tiêu độc, điều hòa huyết áp…Trước đây trà chỉ phổ biến ở một số nước Châu á như ở Ấn Độ, Srilanca chỗ nào cũng trồng trà để cung cấp cho người bản địa và cả cho xuất khẩu. Sau này được lan rộng ra các nước Trung Á như một số nước thuộc khối “Udơbêch” của các nước cộng hòa Liên Xô cũ, đặc biệt những nước này không trồng trà, nhưng ở nơi nào cũng uống trà. Trên “con đường tơ lụa” trà dần dần có mặt ở các nước Châu Âu. Ở Việt Nam, có thể nói trà có...