Chuyển đến nội dung chính

Hiểu thêm chuyện gốm Châu Ổ

Trên 200 tuổi, Mỹ Thiện - Châu Ổ, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, là một làng nổi tiếng ở miền Trung và Tây Nguyên về sản phẩm gốm sứ. Thắng lợi của thủy triều các sản phẩm công nghiệp mới đã dẫn đến sự tuyệt chủng của nhiều làng gốm sứ, đồ gốm Mỹ Thiện - Châu vẫn giữ được chỗ đứng khiêm tốn trên thị trường, do những đặc điểm độc đáo.

Nằm gần Quốc lộ 1A, cách thành phố Quảng Ngãi 20 km về phía Nam, thành phố Mỹ Thiện - Châu Ổ có vị trí thuận lợi để sản xuất và vận chuyển hàng hoá đến các địa điểm buôn bán. "Trong quá khứ, những người buôn bán bắt lấy sản phẩm của chúng tôi trực tiếp từ lò nung. Ngoài các khu vực Quảng Ngãi, Quảng Nam và Bình Định, đồ gốm Mỹ Thiên - Châu được biết đến nhiều ở Huế, Quảng Trị, và Tây Nguyên ', ông Đặng Văn Trinh, 51 tuổi, thợ thủ công gốm làng cho biết. .Bên trái, ngoài sân nhà thờ tổ, có một nhà bia nhỏ, với một tấm bia bằng đá Ngũ Hành Sơn, hai mặt có khắc chữ, nhưng chữ đã mờ, không thể đọc được. Vài chữ còn lại cho biết bia được dựng từ thời Bảo Đại, nhưng năm tháng cụ thể còn cần phải mày mò đoán định thêm. Dù sao qua việc khảo sát các di tích khảo cổ và lịch sử ở Quảng Ngãi, cũng như vùng Kontum, có thể thấy rằng vào khoảng nửa sau của thế kỷ XIX, hiện vật, cũng như các mảnh của lò gốm Châu Ổ đã tồn tại phổ biến và đều khắp. Các ché rượu cần xuất xứ từ lò gốm Châu Ổ, vẫn còn là một phần tài sản quý giá của các dân tộc ít người vùng bắc Tây Nguyên.
 
Những bình gốm sắp ra lò
Sau 1975 những người làm gốm hợp lại thành Hợp tác xã gốm Châu Ổ. Khi chúng tôi đến khảo sát, cả làng chỉ còn lại một hộ gia đình làm gốm. Tất cả đều đã chuyển sang nghề khác. Một hộ còn lại giữ vững truyền thống đương đầu thách thức với sự khắc nghiệt cạnh tranh trong cơ chế thị trường.

Nguyên liệu đất sét trước đây mua ngay ở trong làng, về sau mua ở các làng lân cận. Cách xử lý nguyên liệu theo phương pháp cổ truyền. Đất sét mua về, ủ cho khô nỏ, xong chặt vụn nhỏ ra, nhào nhuyễn, không pha cát hoặc các phụ gia khác. Quá trình tạo dáng được hình thành trên bàn xoay chậm. Một người đứng vê đất thành những con trạch trên một chiếc bàn dài. Người này đứng một chân, làm trụ, còn chân phải đạp mâm bàn xoay. Người tạo gốm ngồi xổm trên một đòn kê, đặt con trạch được vê xong lên một khay nhỏ đặt trên bàn xoay gốm. Khay quay theo cùng bàn xoay để tạo dáng vuốt thành hình. Sau khi tu sửa, vuốt lại hiện vật, người thợ mới bưng khay ra, thay khay khác, tiếp tục công việc. Người tạo hoa văn lấy hiện vật được tạo dáng xong gắn lên những hoa văn đắp nổi: con sóc, rồng, hoa, nhũ đinh v.v… Quá trình tạo dáng hoàn tất, hiện vật được đem phơi ngay trên sân nhà cho se lại.

Lò nung gốm theo kiểu lò cóc, nhưng có phần cải tiến theo kiểu lò hộp. Nhiên liệu dùng bồi, củi, trấu. Hiện vật được xếp vào lò nung trực tiếp, không cần bao nung.

Cung cách sử dụng bàn xoay chậm ở đây tương tự như cách sử dụng của các lò gốm Hương Canh ở Vĩnh Phúc vào những năm 60 của thế kỷ trước. Sản phẩm làm ra như gốm Phù Lãng: sành có men. Có hai loại: một loại sành có tráng men, màu da lươn và một loại sành tự nhiên được sản sinh do quá trình nung làm cho ô-xít nhôm có trong đất sét bị mu-lít hóa. Loại này khác với gốm Phù Lãng vì hiện vật được nung xong mang màu sắc tím đậm ngả xanh, thể hiện đặc sắc của cá tính địa phương Châu Ổ. Sắc màu của gốm này khiến chúng ta liên tưởng đến màu sắc của những hiện vật gốm trang trí trên nóc của các tháp Chăm trong vùng. Phải chăng đây là một truyền thống địa phương được hình thành bền vững do chất liệu đất và kỹ thuật nung, hình thành nên một sự tương đồng dai dẳng về mặt truyền thống, tuy rằng ông tổ của người làm gốm ở Châu Ổ vốn là thợ nghề từ đất Thanh Hóa di cư vào.

Những dáng bình đặc trưng của gốm Châu Ổ là các loại bình cắm hoa để thờ tự, các loại vò lớn, nhỏ để đựng nước, rượu. Những vò to được gọi là ché. Các loại hũ, tỉn, ang, chum, vại để đựng các loại mắm, chượp, nước mắm. Gốm Châu Ổ là một loại đồ đựng thích hợp nhất để đựng các chất mặn như: chượp nước mắm. Ngày nay tuy nhiều người biết đồ nhựa dùng để đựng các chất này hay gây độc, nhưng vì thuận tiện cho nên đồ nhựa đã thay thế dần vai trò của các loại gốm Châu Ổ.

Đứng ở góc độ kỹ thuật học, lò gốm Châu Ổ vẫn còn bảo lưu tính chất cổ truyền của công cuộc chế tạo đồ gốm nguyên thủy. Đây là kỹ thuật dùng dải cuộn kết hợp với bàn xoay chậm. Kỹ thuật này đã tồn tại ở làng gốm Hương Canh, Vĩnh Phú vào những năm đầu sáu mươi của thế kỷ hai mươi. Sang những năm bảy mươi, bàn xoay Hương Canh được chuyển động nhờ một mô tơ điện. Làng gốm Bát Tràng những năm hai mươi của thế kỷ trước đã dùng mô tơ điện.


Lò gốm Châu Ổ hiện nay còn phát triển được là do có những đơn đặt hàng từ các khách sạn ở Hội An. Gốm Châu Ổ là những vật trang trí trong các ngôi vườn nhỏ của các khách sạn. Dù sao thì mẫu mã cũng đơn điệu, nhưng có thể là hướng phát triển trong tương lai của gốm Châu Ổ. Phát triển được hay không lại phụ thuộc vào những người chơi sành điệu, biết khám phá ra những nét đẹp truyền thống của gốm Châu Ổ. 

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Nức tiếng gốm Đông Triều

Đông Triều là một trong những điểm dừng chân bắt buộc của du khách trong và ngoài nước khi đến thăm khu vực vịnh Hạ Long hùng vĩ với số dân hải đảo tăng từ vùng nước trong xanh của Vịnh Bắc Bộ. Huyện Đông Triều, cách thành phố Hạ Long 60km, trên đường cao tốc 18A, sở hữu một số ngôi làng gốm nổi tiếng nhất của Việt Nam. Gốm sứ Triều đã phát triển gần đây hơn so với các làng gốm sứ truyền thống khác ở Việt Nam như là thợ bậc thầy đầu tiên, ông Hoàng Ba Huy, bắt đầu hội thảo sản xuất gia đình vào năm 1955. Vài năm sau, năm 1958, ông thành lập hợp tác gốm sứ Đông Thành ở làng Cầu Đất với một số nhà máy sản xuất gia đình khác. Đến cuối năm 1960, ông đã thành lập một hợp tác xã khác là Gạch Ngói Ánh Hồng tại thôn Vĩnh Hồng, thị trấn Mạo Khê. So với Bát Tràng, Phù Lãng, Kim Lan,… làng gốm Đông Triều (Quảng Ninh) còn khá non trẻ về tuổi đời. Vào năm 1955, ông Hoàng Bá Huy là người tiên phong trong việc mở xưởng sản xuất gốm với quy mô gia đình. Trải qua thời gian, nghề này được nhân rộng...

Mách nàng những cách mix đồ với màu hồng pastel cực thời trang

Chắc hẳn nhiều cô nàng bây giờ đang đau đầu vì lựa đồ chào đón cái tết cổ truyền. Vì vậy bài viết này sẽ giới thiệu các nàng gam màu hồng pastel, gam màu làm mưa làm gió năm 2017 nhưng vẫn không có dấu hiệu giảm độ hot trong năm 2018 này. Hồng pastel luôn là gam màu có sức hấp dẫn đặc biệt với các cô nàng dịu dàng, nữ tính. Để mặc đẹp màu hồng pastel không khó, các nàng có thể chọn mix mới áo khoác dài để mang tính thời trang, sành điệu hoặc mix với phụ kiện hay set đồ. Tùy vào cách bạn chọn đồ hay trang điểm thì bạn sẽ trông điệu đà, duyên dáng hay cá tính. Mix theo set đồ Với gam màu hồng pastel, một vài quy tắc mix đồ bạn nên bỏ túi: - Hồng pastel chuộng các gam màu lạnh đơn sắc, đặc biệt là trắng, đen, ghi xám. - Không nên mix màu hồng pastel với những món đồ quá nhiều họa tiết, dễ tạo cảm giác rối mắt. - Bạn có thể mix hồng pastel ton-sur-ton (tông xuyệt tông) bằng cách tạo điểm nhấn giữa sắc hồng của các món đồ: đậm dần hoặc nhạt dần. Áo khoá...

Văn hóa thưởng thức trà ở Việt Nam

Ở Việt Nam, trà được cho là xuất hiện trong hầu hết các hoạt động xã hội: từ đám cưới, sinh nhật đến lễ kỷ niệm và lễ nghi. Một chén trà nóng vào buổi sáng sớm sau khi ăn sáng, một số trà đá ở "quán cóc" - cửa hàng làm đường bên đường trong khi chờ bạn, hoặc cả ngày làm lạnh trong một quán trà; Đó là cách trà xâm nhập vào cuộc sống hàng ngày của người Việt Nam. Lịch sử văn hóa trà Trà không chỉ là một thức uống mang đậm bản sắc văn hóa mà có gía trị liệu pháp, giúp cho máu huyết lưu thông, lợi tiểu, có khả năng chống ung thư, tiêu độc, điều hòa huyết áp…Trước đây trà chỉ phổ biến ở một số nước Châu á như ở Ấn Độ, Srilanca chỗ nào cũng trồng trà để cung cấp cho người bản địa và cả cho xuất khẩu. Sau này được lan rộng ra các nước Trung Á như một số nước thuộc khối “Udơbêch” của các nước cộng hòa Liên Xô cũ, đặc biệt những nước này không trồng trà, nhưng ở nơi nào cũng uống trà. Trên “con đường tơ lụa” trà dần dần có mặt ở các nước Châu Âu. Ở Việt Nam, có thể nói trà có...